ĐẢng cỘng sẢn viỆt nam ra ĐỜi quÁ trÌnh sÀng lỌc nghiÊm khẮc cỦa lỊch sỬ & dÂn tỘc viỆt nam 1. bỘ giÁo dỤc vÀ ĐÀo tẠo trƯỜng ĐẠi hỌc bÁch khoa khoa lÝ luẬn chÍnh trỊ tiỂu luẬn mÔn hỌc: ĐƯỜng lỐi cÁch mẠng cỦa ĐẢng cỘng sẢn viỆt nam tÊn ĐỀ tÀi: ĐẢng cỘng sẢn viỆt nam ra ĐỜi quÁ trÌnh sÀng
Mặc dù đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nước có thu nhập trung bình thấp, song thực chất vẫn là nước nghèo, kinh tế còn lạc hậu, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với thế giới và khu vực ngày càng lớn. Mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa thể đạt được.
Riêng tôi, xin nêu lên 1 lý do ít người nhắc tới, mà theo tôi, đây là 1 lý do cốt lõi, dẫn đến nhiều lý do khác làm cho chúng ta vẫn mãi nghèo nàn và lạc hậu. Đó là sự lãng phí. Lãng phí ở đây không chỉ là tiền bạc, của cải vật chất mà là lãng phí về mặt tri thức
Người Việt lạc quan thứ 5 toàn cầu. Malaysia đạt mức tăng trưởng cao nhất, tăng 13 điểm phần trăm và đây là mức tăng nổi trội nhất trên toàn thế giới. Với mức tăng này, Malaysia nhảy vọt 8 bật, trở thành nước lạc quan đứng thứ 7 toàn cầu.
Ở nước ta từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, những quan điểm kinh tế của Đảng ta đã thể hiện sự nhận thức và vận dụng "Chính sách kinh tế mới" của V.I. Lênin phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của thời kỳ quá độ ở nước ta. 2.
Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd. Mấy hôm nay không lên triều, nhưng cũng khá bận rộn, một đằng an ủi hai vị trọng thần Trần Văn Kỷ, Lê Văn Hưng. Mặt khác lại cho gặp nhằm lôi kéo đám cựu thần quan văn võ tướng. Thật là khổ sở nha, đường đường là hoàng đế một nước mà suốt ngày phải nghỉ cách lôi kéo lấy lòng đám cận chung do hoàn cảnh ra đời của nhà Tây Sơn, xuất thân từ khởi nghĩa nông dân đa số các tướng lĩnh quan lại khá chất phác thật thà, vẫn chưa bị tiêm nhiễm nặng thói hủ nho đầy tính bảo thủ. Nếu có phương pháp phù hợp vẫn chữa trị vấn có một số quan văn xuất thân nhà nho như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp, Trần Văn Kỷ…vv. Hồ Độc Lập đang tìm cách lôi kéo kết quả nhận được không khả quan lắmHồ Độc Lập sau khi quan sát và cân nhắc kỹ một hồi liền nhận thấy đa số quan lại đều trung thành với nhà Tây Sơn, nhưng do việc không phục lẫn nhau mà gây nên bất hòa. Trong triều tạm thời chia làm 3 phe phái đầu là những người theo Quang Trung từ thủa mới khởi nghĩa như Phan Văn Lân, Lê Văn Hưng, Võ Đình Tú…vvPhái ngoại thích do Bùi Đắc Tuyên cầm đầu, trong dó có Ngô Văn Sở, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân…vv Phái những người xuất thân bắc hà như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Văn Kỷ, Vũ Văn Dũng….v vĐa số các quan lại đều làm nhiệm vụ trấn giữ ở bên ngoài, Hồ Độc Lập từ khi xuyên việt đén bây giờ không được gặp nên chẳng có ấn tượng gì nhiều, nhưng việc lôi kéo cũng phải dự định Hắn muốn điều động một số người về lại kinh thành . Một là để dễ bề lôi kéo và làm công tác tư tưởng. Sau lại luân chuyển chức vụ tránh một người giữ ư chức vị quá lâu tại địa phương. Và cuối cùng là cân bằng quyền lực trong dự định sẽ phải điều động lại một lượt quan lại cũng như sắp xếp binh lực một lần nữa tại bắc hà. Các thành phần hủ nho như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp… chắc chắn phải được đưa ra ngoài làm quan. Muốn làm được như vậy trước tiên phải có sự ủng hộ của hệ phái bắc hà, trong đó phải kể đến Vũ Văn Dũng và Trần Văn may là Vũ Văn Dũng đang trên đường trở về kinh, mà Kỷ sau chuyện cắt chức Bùi Đắc Tuyên một nửa là tâm phúc của hắn. Chuyện này nếu suôn sẻ, hắn sẽ có trong tay khoảng hai vạn quân đội nếu sử dụng khéo liền có thể chắc chắn củng cố quền lực trong tay, lúc đó thoải mái thực hiện cải cách sẽ không còn lực cản từ nội phía Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân thì dễ nói rồi, chính là tâm phúc của Quang Toản, Quang Toản có thể leo lên ngôi vua cũng là nhờ sự ảnh hưởng và tác động từ phía Diệu và Xuân. Tính theo vai vế Quang toản phải gọi Xuân là dì và gọi Diệu một tiếng một điều nữa mà Hồ Độc Lập lưu tâm là chọn ai nắm quân bảo vệ kinh thành. Lúc trước Ngô Văn Sở nắm binh, giờ đây Sở ra Thăng long nhận chức. Nên chức võ tướng này còn bỏ trống chưa ai làm, khi Lê Văn Hưng báo lên hắn mới biết. Kể ra vị trí này nói quan trọng thì rất quan trọng mặc dù chi quân đội này chỉ có 5000 người nhưng phải hỏi nơi mà nó đóng quân là ở đâu?, chính là kinh thành Phú Xuân đấy! Nếu nói thích hợp theo Hồ Độc Lập chính là Phan Văn Lân . Trong sử sách ghi lại Phan Văn Lân trí dũng hơn người, đánh giặc rất giỏi. Hễ được ban thưởng là đem hết ra để khao quân, không mấy khi nhắc đến việc nhà. Ông ra vào giản dị, chẳng khác người hầu. Quân Thanh sợ ông, gọi ông là "Phi tướng quân", có nghĩa là vị tướng ở trên trời bay Văn Lân hiện đang giữ chức nội hầu coi việc bảo vệ hoàng cung tức là ngự lâm quân, để thấy Quang Trung coi trọng ông như thế nào. Ngoài ra còn một ứng cử viên nữa chính là Bùi Thị Xuân, và thực tế nếu như không phải do Hồ Độc Lập xuyên việt đến lúc này tướng quân coi giữ kinh thành chính là bà quy định người giữ ngự lâm quân và cấm vệ quân không thể cùng một người được, bởi vậy Bùi Thị Xuân có vẻ là người thích hợp nhất cho vị trí đường lớn thuộc địa phận trấn nghệ, dưới chân đèo ngang, một đoàn người ngựa tầm khoảng hơn trăm lưng deo đao sắc thân mặc giáp, nhìn qua không cần đoán cũng biết đây là quân đội triều đình đang đi về phái kinh đầu đoàn người ngựa là hai vị đại hán, một người áo quần gọn gàng tay cầm trường thương dáng cao ráo trong như một vị thư sinh. Người còn lại lưng đeo đao lớn nhìn vào có thể đoán được đấy ắt bảo đao, thân người này cao to hùng vĩ trông oai hùng, đúng như hình tượng tướng quân mẫu hai dục ngựa thong thả tiến tới vừa đi vừa nói chuyện khá gần gũi. Người đàn ông mang bảo đao nói với người cầm thương.“ Hiền đệ! Lần này không biết bệ hạ gọi chúng ta về có việc g씓 Đệ nghe đâu chiến sự tại phan rang quân ta gặp bất lợi, không biết có liên quan đến chuyện này hay không?”“ Diệu, Xuân nhị vị tướng quân chẳng phải đang cầm quân ở đó đối chọi với giặc Nguyễn Ánh hay sao, với khả năng cầm quân của họ sao lại gặp bất lợi được cơ chứ”“ Dũng đại ca! vậy huynh không biết rồi, chính gặp Diệu, Xuân hai vị tướng quân nên quân ta mới bất lợi”“ Đình Tú đệ có cao kiến gì xin nói ra để ngu huynh đây được mở mắt” “ huynh đệ hai ta đâu cần khách sáo như vậy, cao kiến thì không có nhưng huynh có lẽ không biêt, Diệu Xuân nhị vị tướng quân tuy cầm binh đánh trận giỏi nhưng sở truờng chính lại ở vùng núi, ra kỳ binh bất ngờ, mà phan rang là vùng đồng bằng vậy chẳng phải đã rõ rồi sao?”Quả đúng là như vậy Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu dưới thời Quang Trung chuyên cầm quân đi theo đường núi từ nghệ an vào đến tây nguyên, nhiều lần xuất kỳ binh bất ngờ tập kích địch lập nên công trạng. còn khi đánh quân thanh ở đồng bằng bắc bộ hay đánh quân xiêm ở nam bộ lại không sử dụng Trần Quang Diệu. Điều đó có thể thấy được tài nhìn người của Quang ra đây chính là hai võ tướng Võ Văn Dũng và Võ Đình Tú đang trên đường về kinh. “ Hiền đệ nói chí phải, ngẫm ra cũng đúng, chẳng trách năm đó tiên hoàng 4 lần xuất quân đánh vào Gia Định lại không có phần của y.. ha ha”“ Đệ nghĩ lần này Trần Quang Diệu tướng quân cầm quân chống với giặc Ánh chắc do ý của Tuyên.”“ Hừ.. nghe nói hắn ỷ thế lộng hành trong triều lắm, lần này đừng để cho ta thấy không ta thề nén hắn xuống sông cho cá ăn”.Nếu Hồ Độc Lập nghe được câu này chắc phải há mồm kinh ngạc. trong lịch sử đúng là có chuyện như vậy đấy. Võ Văn Dũng chính là đã ném Bùi Đắc Tuyên xuống sông đấy!“ Chuyện đó để sau hãy bàn, lần này hoàng thượng gọi hai ta về chắc sẽ không ngoài việc đánh giặc Ánh, huynh nói xem bàn về công thành chiếm trại địch chẳng phải sở trường của huynh đệ ta sao”“ Đúng vậy! Đến lúc đó không biết ai trong hai ta được cầm quân đây”“ Cái đó còn phải xem vào hoàng thượng rồi, huynh không định tranh giành với đệ đấy chứ”“ Tất nhiên chuyện này ta phải dành rồi, đệ nhường cho ta đi, ta thật ngứa tay chân quá rồi, mấy năm rồi không được ra chiến trường thoải mái một trận”Võ Văn Dũng háo hức nói, nhất quyết không nhường cho Võ Đình Tú “ Đệ cũng không nhường đâu đó” Võ Đình Tú đáp lại……….Đoàn người ngựa tiếp tục lên đường thẳng hướng kinh thành…….Kinh thành phú xuân, hoàng cung, bên trong thư Độc Lập vừa viết xong một bức thư cho đại đô đốc Lý Văn Bưu sau đó cho người nhanh chóng truyền tin.Lý Văn Bưu là một trong thất đại hổ tướng của triều tây sơn xuất thân trong một gia đình giàu có chuyên nghề buôn ngựa ở Đại Khoang, Phù Cát, Bình Định. Nổi tiếng ngay từ tuổi niên thiếu về tài đức, võ nghệ, một phần vì ngựa tốt mà ông bán nên ông có rất nhiều hào kiệt làm bằng hữu. Về sau, ông tham gia vào phong trào Tây Sơn với vai trò huấn luyện chiến mã, ngoài ra ông còn chỉ dạy cho Bùi Thị Xuân cách huấn luyện chiến mã để sau này bà áp dụng nó vào huấn luyện voi chiến’.Hồ Độc Lập lập tính đến chuyện sắp xếp lại quân đội ở bắc hà. Khi nhìn đến tam điệp ba vì liền nghĩ đến ngay đến điệp Ba vì đóng vai trò như yết hầu đi vào bắc hà, lại là thảo nguyên tốt thích hợp cho việc chăn thả gia súc như trâu, bò, và đặc biệt là ngựa. đây chính là nguồn sức kéo mà đất nước đang cần đấy. Tương lai dù khi xe hơi nước ra đời thì sức kéo của gia súc vẫn đóng vai trò chính, vì không phải ai cũng có tiền mua xe hơi nước đấy, với lại từ lúc này đén khi đó còn một khoảng thời gian khá điệp Ba Vì đóng vai trò quân sự vô cùng quan trọng. nếu có thể đóng một cánh quân ở đây, phía tây là thành nghệ an, phía bắc là thành thăng long, phía đông là vùng đồng bằng hải phòng quảng ninh. Khi một trong 3 nơi này có chuyện thì đây sẽ là nơi chi phối quân tiếp viện nhanh nhất. Vậy nên tại đây đóng một nhánh quân đội vừa huấn luyện vừa nuôi ngựa lấy đó xây dựng đội kỵ binh cơ động thì quá tuyệt. Khi nhắc đến vấn đề này Lê Văn Hưng liền giới thiệu Lý Văn Bưu cho hắn. Hồ Độc Lập vốn định truyền chỉ cho Lý Văn Bưu trở về nhưng nghĩ đi nghĩ lại hắn vẫn thấy viết thư sẽ hay hơn. lần này trong thư Hồ Độc Lập dùng ngôn từ khá khách sáo, cuối thư mới mở lời trước mời Bưu về kinh đón tết sau lại có việc lớn muốn ông đi làm giúp. Theo như suy nghĩ của Hồ Độc Lập nếu vài năm sau mỗi năm vùng Tam Điệp Ba Vì có thể cho ra một ngàn con ngựa chiến và khoảng 5000 con ngựa kéo thì đúng là đã giúp hắn giải quyết được nhiều vấn đề về nhân lưc. Tương lai muốn làm đường, cất nhà cửa, xây dựng cảng biển ..v v. lượng ngựa kéo xe này chính là nguồn lao động vô cùng lớn đấy. nếu không đầu tư ngay từ bây giờ đến khi đó chỉ sợ luốn cuống tay chân.“Khải bẩm hoàng thượng thượng thư bộ hộ Ng Thế Lịch xin gặp”.lão phúc chạy vào thư bộ hộ sao? Mình đang tính cho gọi lão đến không ngờ lã tự đến càng khỏi mất công cho gọi.“ Mau cho vào”Nguyễn Thế Lịch hôm nay cuãng không phải bất ngờ mà đến, theo quy định mỗi tháng riêng bộ hộ phải cho người đến báo cáo với vua về tình hình thu chi quốc khố một lần, cái này là quy định riêng được đặt từ lúc tiên hoàng còn sống.“ Thần Nguyễn Thế Lịch khấu kiến hoàng thượng vạn tuế vạn tuế vạn vạn tuế ““ ái khanh bình thân”“ tạ ơn hoàng thượng”“ ái khanh có việc gặp trẫm”“ Thần xin dâng sổ thu chi của bộ hộ tháng nay lên hoàng thượng xem xét”Nguyễn thế lịch đem sổ kê khai thu chi của bộ hộ một tháng qua cho Hồ Độc Lập. hắn cầm lấy cũng giả bộ lật vài trang cho có bộ chứ mấy con số được ghi bằng chữ nôm này quá khó hiểu. Bỏ cuốn sổ xuống bàn hắn hỏi lão.“ Lịch thượng thư! Không biết một năm quốc khố thu vào được bao nhiêu tiền?”“ khải bẩm hoàng thượng, mọi năm thu vào khoảng chừng 200 vạn lượng bạc”Chỉ có 200 vạn lượng thôi sao. Đúng là quá ít đi, nhưng kể ra cũng đúng, thuế khóa chủ yếu trông chờ vào mấy mẫu ruộng cũng chỉ có thế không hơn được.“không biết quốc khố hiện tại còn bao nhiêu bạc”Lão lịch nghe vậy ngập ngừng một chút mới đưa ra con số.“ 20 vạn lượng, do mới vừa bổ sung một đợt quân lương cho tướng diệu nên chỉ còn nhường ấy. sang năm phải đến tháng 4 mới có đợt thu thuế mới, thần sợ quốc khố không đủ bạc để chi đến lúc ấy”20 lượng bạc đúng là quá it, quá quá ít sao đủ để duy trì năm tháng nữa cơ chứ. Lạ là mấy năm trước cũng chỉ thu vào như vậy mà cái triều đình này vẫn duy trì được cho đến bây giờ.“ Mấy năm trước cũng như vậy sao” Hắn hỏi lại“ mấy năm trước dù thiếu nhưng chỉ cần tiêt kiệm một chút liền có thể qua, nhưng năm nay một số nơi gặp lũ bão ảnh hưởng đến mùa màng nên chỉ thu được 150 vạn lượng” Lão Lịch trả lời rụt rèNghe đến đây Hồ Độc Lập cảm thấy chán ngán, ban đầu hắn dự định lấy một ích tiền ở quốc khố nhằm chi trả cho các hoạt động, nay nghe tin như vậy thật đúng là đau đầu rồi. e rằng phải nhanh chóng tìm đường kiếm tiền khác mà thôi’Thầm nói trong miệng xem ra phải cắn miếng bánh nhà thanh này rồi’.
Trong ngự thư phòng, thư phòng là cách gọi văn nhã theo kiểu hán, nếu theo lối thuần việt của ta, liền gọi đây chính là phòng làm việc. Quang Toản đến đây đọc tấu chương, song khi cầm lên đọc lại chẳng hiểu gì. Đây không phải là do không biết chữ, đầu nhập vào thân thể Quang Toản, Quang Toản còn thừa hưởng trí nhớ của y. chỉ là do. Tấu thư viết bằng chữ hán khó hiểu mà thôi. Câu chữ lủng cà lủng củng do dùng quá nhiều từ hán việt. Lúc đọc tấu thư bằng chữ nôm mặc dù có khá hơn chút ít nhưng câu chữ vẫn không khá hơn được bao nhiêu, cứ như đọc truyện covert chưa edit trên mạng và kiếp trước vậy. Dùng một người hiện đại quen đọc với những câu chữ minh bạch sáng tỏ nghĩa, nay cầm quyển tấu chương còn khó hiểu hơn cả văn tế nghĩa sỹ cần giuộc. Cuối cùng Quang Toản dành phỉa để lại một đống bản tấu ở đó chờ nghĩ cách xử lý sau vậyXuyên việt cũng không phải là một lợi thế gì lắm cho cam ngoài chuyện biết trước một tí sự kiện lịch sử đây có nghĩa là không phải sự kiện gì cũng biết bởi vì không phải sự kiện nào cũng được lịch sử ghi lại hoặc ghi lại rõ ràng chi tiết, kiếp trước khi học lịch sử, hắn ngay cả nhứng mốc thời gian của các sự kiện chính còn chẳng nhớ được tí gì gọi là chính xác, việc gì cũng u u mê nên có thể nói ưu thế duy nhất của hắn cũng sụp đổ luôn rồi. Kể cả một tiến sĩ khoa học quân sự như hắn cũng phải chịu bó tay bó chân vậy. Ví như để một ông chủ nhà máy sản xuất nước giải khát vào giữa sa mạc vậy, chẳng thể làm được gì khi nền khoa học kĩ thuật của nhà tây sơn vào lúc này có thể nói là bằng như bây giờ quân đội đang phải tham gia chiến tranh, cái cần nhất lúc này đây là vũ khí, đơn giản như muốn làm một khẩu súng trường là cái mà hắn quen thuộc và tìm hiểu kĩ càng nhất, đúng vào chuyên ngành của hắn. Hắn thậm chí có thể đưa ra bản vẽ thiết kế các loại súng bộ binh, pháo binh, tiên tiến nhất thế giới đã được sản xuất ở kiếp trước song lại có thể sản xuất được hay không đó mới là vấn liệu sắt thép không đạt yêu cầu, máy móc sản xuất gia công lại không có, chẳng lẽ bây giờ hắn đem bản vẽ súng trường cho thợ rèn bắt họ làm. Chuyện này đúng là quá khôi hài như với điều kiện khoa học kỹ thật của nước Anh bây giờ thì đúng là có thể hoàn toàn sản xuất được một số loại súng trường nòng xoáy và thậm chí là pháo cối, song hắn là đang ở việt nam cuối thế kỷ 18 đấy. lúc này việc buôn bán trao đổi giữa phương đông và phương tây còn chưa phải là thời kỳ nhộn nhịp Tây Sơn lại chẳng có ưu thế gì, cả nước làm gì có chiêc tàu nào đủ lớn có thể đủ lớn vượt đại dương. Thương mại do sự trọng nông khinh thương của nhiều thế kỉ nối tiếp nhau để lại, với lại chính bản tính của đa số người việt cũng không có tâm lý coi kinh thương làm mục tiêu, tầng lớp có tiền của như phú nông địa chủ lại càng an phận thà cất tiền để mốc trong nhà chứ không dám mạo hiểm đi buôn bán, có chăng cũng chỉ là buôn bán nhỏ lẻ, làm người bán lẻ cho các thương nhân Nhà Thanh ở các chợ nghiệp thì coi như bằng không rồi, chẳng cần bàn cãi, trong nước ngay cả đồng dùng để đúc tiền cũng thiếu mà phải đi pha kẽm rồi cho tư nhân tự đúc tiền thì thử hỏi còn phát triển nỗi gì. Kim loại gang thép để trong nước cũng vô cùng thiếu thốn, chủ yếu là từ các con đường do buôn lậu từ nhà Thanh qua. Đó chỉ là một trong những dẫn chứng đơn giản mà thôi. Chưa kể đến hắn liệu có đủ tài chính để duy trì cái đất nước này qua vài lần thiên tai hay không nữa. Nếu như việc ứng dụng khoa học kĩ thuật tạm thời không khả thi vậy việc phát triển kinh tế thương mại cũng được đi đàng này muốn phát triển kinh tế thương mại cũng vô cùng khó khăn nha, thu nhập kinh tế của Nhà Tây Sơn lúc này cũng giống như với các triều đại trước, nông nghiệp gần như chiếm 99,9%, thuế khóa thu được hoàn toàn dựa vào việc thu thuế từ các mẫu ruộng năng suất cực kỳ thấp tính đơn vị bằng chén, mối mẫu ruộng trung bình hằng năm thu được khoảng 50-80 bát thóc, vậy mà đủ để vận hành cái bộ máy nhà nước này mấy năm nay thì thật đúng là quá may mắn rồi chứ đừng nói đến việc dư giả. Vậy phải phát triển thương nghiệp nhưng người dân ta còn nghèo, nhà nào có vài nghìn lượng là đã giàu nhất huyện rồi, dân mình làm buôn bán chỉ từ vùng này qua vùng khác là đã quá xa kinh doanh buôn bán nhỏ hẹp với gánh hàng rong ra chợ nếu lấy đó mà đánh thuế cao thì khác gì giết gà lấy trứng. Còn mở cửa biển giao thương với nước ngoài mà mình chỉ biết dựa vào các sản vật quý hiếm để trao đổi thì càng không khả thi, đầu tiên việc này không thường xuyên, cùng lắm chỉ làm lợi cho một bộ phận nhỏ thương nhân mà thôi, chủ yếu là thương nhân người hoa, sau lại xét đến trong nước làm gì có nhiều sản vật quý hiếm mà đem bán. Với lại khả năng trốn thuế là chắc chắn rồi, đất nước chẳng thu được lợi ích gì ở đây cả. Nghĩ đến chuyện vượt biển ra khơi buôn bán như người ta lại càng không khả thi. Thương nhân nước ta lúc này đây vốn ít lấy đâu ra tiền mua thuyền lớn ra khơi, còn thuyền nhỏ lại chẳng phải làm mồi cho sóng biển, với lại dân ta còn nghèo, sức mua có hạn, việc buôn bán thường ngày chỉ dừng lại ở con gà quả trứng, mét vải, lít dầu…vv mà thôi. Đã thế kinh tế nước ta còn bị lũng đoạn. lượng vàng bạc trong dân rất ít đa số bị các thương nhân nhà Thanh dùng thủ đoạn như đúc tiền lậu kém chất lượng bằng đồng pha kẽm, đưa sang ta tiêu thụ, chủ yếu là đổi ra vàng bạc, vật phẩm quý hiếm đưa trở về nước. Có thể nói nền kinh tế lúc này bị nạn đúc tiền lậu làm cho nát bấy. Quan lại trong nước thời kì này đâu ai ý thức được sự tai hại của việc này. Vấn đề này lại càng không thể giải quyết ngày một ngày hai được, vì nếu không sử dụng tiền do tư nhân đúc thì nhà nước cũng đâu có đồng mà đúc lại sau lưng các nơi đúc tiền này đâu thể thiếu bóng dáng của quan lại trong nước, hắn muốn nhanh chóng củng cố nhưng lại sợ nghẹn, nên nhớ hắn mặc dù là hoàng đế nhưng chỉ mới 12 tuổi nha. Quân quyền lại không nắm trong tay đấy. cơm cũng phải ăn từng miếng mà, bởi vậy việc gì cũng phải làm từ từ, không thể duy tân bách nhật’ được. Thế nhưng trong lòng Quang Toản cũng có một chủ ý khác có thể thực hiện ra việc này cũng khá đơn giản, ở nhà Thanh lúc này dùng hai loại tiền chính là tiền đồng pha kẽm, tiền xu có đục lỗ ở giữa, và loại tiền bằng bạc đúc ra thành thỏi dạng hình thuyền hay còn gọi là nguyên bảo, cứ mỗi một nghìn đồng tiền xu như vậy tương đương một lượng bạc. Bởi vậy Quang Toản định dùng chiêu gậy ông đập lưng ông, đúc tiền lậu đồng tiền xu của nhà Thanh, rồi cũng tương tự qua nhiều con đường đưa vào tiêu thụ ở nhà Thanh, thu gom vàng bạc lấy đó làm tiền tệ giao thương buôn bán với phương giao thương buôn bán với người tây là điều hoàn toàn không thể tránh khỏi, thậm chí rất cần nữa là dằng khác. Vì do đặc thù giữa hai bên bởi vậy ta và tây không thể dùng tiền tệ của nhau, việc giao thương buôn bán giữa đôi bên lại cần dùng đến vàng bạc làm tiền tệ chung, đương nhiên phương tây vẫn thích dùng vàng hơn dùng bạc. Quang Toản nghĩ mãi cũng chỉ có cách này là hiệu quả mà thôi, với lại do khoảng cách gần nên việc qua lại với nhà Thanh hoàn toàn có thể đi lại giữa đường bộ và đường biển rất thuận lợi. các thương nhân châu âu coi nhà Thanh như một thị trường béo bở, họ vượt đại dương bao la đến đay chỉ vì miếng bánh ngọt này, nay mình ở gần bên như vậy mà không tận dụng hưởng chút bánh ngon thì đúng là phí của quay sang hỏi lão Phúc- việc đúc tiền do ai quản lý”.- Dạ bẩm việc đúc tiền là do công bộ quản lý, trong đó có một doanh chuyên đúc tiền” lão phúc thưa- Vậy ông cho gọi người của doanh đó đến đây đi, ta có chuyện muốn gặp” Quang Toản nói với lãoChừng một giờ sau trong phòng làm việc của HĐL đáng lý phải gọi là thư phòng, nhưng vì mình muốn đùng từ thuần việt nên gọi thư phòng là phòng làm việc có thêm ba người đang khúm núm chờ nghe. Quang Toản quan sát ba người khá lạ đang đứng trước mặt mình nhưng tai lại chăm chú nghe lão Phúc ở bên cạnh nhắc nhỏ lai lịch từng người, thực tế lão phúc cũng chỉ đọc và nhắc lại từ các bản ghi chép quan lại mà thôi chứ lão cũng mù tịt như hắn vậy. Theo miêu tả, người đứng đầu trong ba người là chính là Phạm Công Thiệu hiện đang giữa chức công bộ ti thuộc bộ công, nhìn Phạm Công Thiệu khoảng độ tầm 45 tuổi trông khá bình thường nếu đứng chung cùng một đám người thì chẳng có gì nổi bật, thuộc tốp người chỉ nhìn một lần là quên, nếu nói điểm ấn tượng mà Phạm quang Thiệu để lại theo quan sát của Quang Toản chính là làm da ngăm đen, không giống như một ông quan. Nhưng nếu như vậy mà khinh thường Thiệu thì coi chừng, 45 tuổi không dựa vào bất kì mối quan hệ nào, chỉ dựa vào công trạng của chính mình mà có thể leo lên đến chức công bộ ti tương đương với thứ trưởng thời hiện đại nhất là lại được chính Quang Trung sắc phong thì lại không phải chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài mà đánh gía hết được. Nghe lão Phúc đọc lại một loạt công trạng của y thấy y là người khá rành rẽ trong việc khai thác quặng mỏ. 'Từ những ngày đầu khi chiếm thành quy nhơn, từ một thợ rèn binh khí lại am hiểu việc khai quặng, trong buổi đầu nổi đậy, vũ khí thiếu thốn thì đây đúng như là đưa than sưởi ấm vào ngày tuyết rơi, vì vậy ông nhanh chóng được trọng dụng. Khi Bùi Đắc Tuyên lộng quyền, Thiệu theo bản tính tránh tranh chấp quyền lực nên giữ trung lập không tham gia vào trong đó, ẩn nhẫn không lộ mặt nên mới tránh được sóng gió triều chính.'Khai thác quặng mỏ là một trong những công việc quan trọng trong thời gian tới, nó ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển kinh tế lâu dài, đang chưa biết kiếm được người may sao hôm nay lại gặp đúng Phạm Công Thiệu, Quang Toản đang rất cần một người như Thiệu, vừa có tài lại không tham luyến quyền lực đúng là một đối tượng tốt để bồi dưỡng tay phía sau công bộ ti Phạm Công Thiệu chắc là Thư lệnh sử chủ quản việc đúc tiền tên Hồ Đông, và người còn lại là thợ cả Hiếu Hậu nghe Lão Phúc giới thiệu một lượt qua lai lịch của cả 3 người. Quang Toản nhìn về người đứng đầu tiên hỏi. “ Khanh là Phạm Công Thiệu”- Hạ quan Phạm Công Thiệu xin ra mắt bệ hạ” Ra hiệu cho Phạm Công Thiệu không cần đa lễ, rồi đưa mắt nhìn về phía hai người còn Hạ quan Hồ Đồng xin ra mắt bệ hạ”- Thảo dân Hiếu Hậu xin ra mắt bệ hạ” Hồ Độc Lập như trước tỏ vẻ cứ tự nhiên không nên quá câu Hồ Đông! khanh là Thư lệnh chủ quản việc đúc tiền”Hồ Đồng nghe vậy đầu tiên là nghĩ Không lẽ Hoàng Thượng định đúc tiền, Quang Trung thông bảo vừa phát hành nay lại đúc thêm tiền sao, việc này chưa nghe phông phanh gì hết’.-Thần chủ quản việc này . Chưa biết ý của Quang Toản ra sao nên Hồ Đồng chỉ trả lời ngắn gọn mà không đưa ra thêm ý kiến Vậy khanh xem có thể bắt theo đúc loại tiền này không. Vừa nói Hồ Độc Lập vừa đưa ra một số loại tiền đồng của nhà Thanh như Ung Chính Thông bảo và Càn long thông Đông cầm trong tay mấy đồng tiền Nhà Thanh quan sát một chút rồi đưa qua cho người kế bên mình là thợ cả Hiếu Hậu sau một hồi quan sát kĩ loại tiền này liền nói - Hạ dân thấy loại tiền này là loại tốt nhất của nhà Thanh đúc ra có tỉ lệ chênh lệch giữa đồng và kẽm là 7 3 tức là 7 phần là đồng 3 phần là kẽm. Loại này khá ít vì trên thực tế đa số tiền đang lưu thông chỉ có 6 phần đồng và 3 phần kẽm mà thôi, với lại mỏng và nhẹ lắm, chỉ bằng nửa tiền này Hậu không hổ là thợ cả có kinh nghiệm về việc đúc tiền đồng, Quang Toản khi nghe đến đây cũng không tự chủ được mà gật đầu tỏ ý tán đồng. bởi vì đây là loại tiền năm đó khi đi sứ nhà Thanh ban Thưởng mà có, sau khi về cũng cất trong cung đến hôm nay hắn mới cho người lấy ra. Loại tiền này khác hẳn với loại tiền hiện đang lưu hành ở trên thị trường- còn việc đúc loại tiền này chăc nghĩ thần hoàn toàn có thể tạo ra loại khuôn đúc của đó. Năm xưa tiên đế trước khi đi sứ qua nhà Thanh cũng từng cho Hạ Dân đúc loại tiền này làm vật cống phẩm, dù không còn khuôn đúc nhưng làm lại thì chẳng tốn mấy công”Thật không ngờ ngờ lại có chuyện này, thì ra trước đó Quang Trung đã cho người làm khuôn đúc tiền nhà Thanh để làm đồ cống phẩm cho chính nhà thanh, vậy chẳng phải có một lượng nhỏ tiền mà nhà thanh đang sử dụng có xuất xứ made in Đại Việt vậy nếu đúc loại tiền này thì tốn kém như thế nào. Quang Toản ra vẻ chăm chú khách sáo hỏi Hiếu vua dùng từ ngữ khiêm tốn đi hỏi, Hiếu Hậu cũng không có thời gian để ý mục đích của vua hỏi để làm gì, chỉ chăm chú dựa vào kinh nghiệm lâu năm trong nghề của mình mà trả lời thấu đáo -Theo như kinh nghiệm, đúc một thiên loại tiền này theo giá ở trong dân cần mất khoảng một lượng bạc nếu tính cả tiền công đúng theo tỉ giá của nhà thanh một thiên tiền đồng bằng một lượng bạc, nhưng thường loại tiền lưu thông trong dân gian càng về sau càng kém chất lượng. Mỏng hơn nhẹ hơn tỉ lệ đồng cũng theo thời gian mà giảm xuống. bởi vậy nếu đúc loại tiền đó, một thiên tiền đồng chỉ mất độ khoảng 5 chỉ bạc mà thôi, tuyệt đối không hơn con số này….”.Nghe bác thợ cả đúc tiền này giải thích một chặp Quang Toản được khai sáng nhiều điều. Nhà thanh từ thời Ung Chính do nhu cầu về số lượng tiền lưu thông tăng cao mà trữ lượng đồng và bạc ngày càng khan hiếm không đủ nhu cầu phục vụ tiêu dùng, Ung Chính bắt đầu cải cách tiền tệ quy định cho sử dụng tiền đồng pha kẽm theo một tỉ lệ nhất định. Cứ một ngàn đồng thì tương đương một lượng bạc cũng không phải là tự nhiên mà có, mà đã có sự tính toán do chi phí để đúc 1000 đồng trung bình hết khoảng trên dưới một lượng bạc mà ra. Còn ở đại việt do khan hiếm về đồng nhiều hơn nên một lượng bạc có giá trị tương đương 600 đồng. Quang Toản nghe vậy trong tâm càng hiểu vì sao thương nhân người hoa lại đúc tiền lậu từ nhà Thanh vào Đại Nam tiêu thụ. Đây là do tình trạng khan hiếm tài nguyên mà ra cả. Vậy mà sau này trong sách địa lý nước ta lúc nào cũng viết nước ta có rừng vàng biển bạc đất đai phì nhiêu tài nguyên đa dạng và phong phú dồi dào’. xin các bạn đóng góp cho mình một chút ý kiến, hoặc tài liệu có liên quan. mình xin cảm ơn.... cảm ơn các bạn đã ủng hộ mình trong thời gian qua.
Thời gian quá gấp gáp, súng Gan Ga 1795 làm ra mỗi ngày đều đưa thẳng đến doanh trại của tân Toản cho tân quân Lạc Việt dần thay đổi súng mới để họ luyện tập, những súng cũ lại đem đến cho Vũ Văn Dũng, súng mới quá nặng nề, khiến cho việc cầm tay chiến đấu lâu dài trở thành một hạn chế lớn khi trang bị cho bộ binh, Quang Toản nghĩ đến việc dùng đến voi, và ngựa làm đặt giá súng, nhưng ngựa không phải binh lính nào cũng có thể cưỡi được, Quang Toản vừa lấy 500 kỵ binh từ Lý Văn Bưu nhập vào Lạc Việt quân, sai Phan Thuận cho lắp trên mỗi yên ngựa một giá súng giúp kỵ binh thực hiện xạ kích ngay trên lưng ngựa. Nhưng giá súng trên lưng ngựa chỉ có thể giúp kỵ binh treo vũ khí chứ không giúp họ vừa xạ kích vừa chạy, đầu tiên là do kỹ năng của người ngồi trên ngựa còn hạn chế, việc hai tay buông dây cương lúc ngựa đang phi nước kiệu không phải ai cũng làm được, sau lại do mức độ chính xác không cao khi khai hỏa trong tư thế ấy. Quang Toản đành để họ tập luyện chiến đấu theo lối du kích kỵ, chia ra từng tiểu đội kỵ binh, bắn sau đó chạy chuyển vị trí rồi lại bắn, nhóm này yểm trợ nhóm kia, lúc chạy mà bị đối phương đuổi theo thì dùng lựu đạn để ném. Tiểu đoàn trưởng chỉ huy kỵ binh tên là Vũ Văn Thành tỏ ra rất thích thú với kiểu chiến đấu mới này, trong khi có một số người tự hỏi trong lòng, cách này có phải rất bỉ ổi không?’Lại nói tân quân Lạc Việt, hiện tại có tất cả 2500 người được chia ra làm năm tiểu đoàn, trước đây lúc mới thành lập, Trần Quách Tĩnh là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 101 và Dương Thiếc là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 103, sau khi hai người này đi nhận chức mới Phan Văn Lân liền đem Đỗ Quốc từ tiểu đoàn 104 sang làm tiểu đoàn trưởng 101, Hữu Nam vẫn là tiểu đoàn trưởng 102, Lê Văn An, một chiến sỹ có thành tích huấn luyện giỏi của tân quân được cất nhắc làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 103, ở tiểu đoàn 104, Quang Toản đem Trần Danh Tuấn vào thử thách ở đây, y trước là tay kiếm giỏi, lúc theo sứ đoàn sang Tây, dùng kiếm của mình đánh bại các tay kiếm Châu Âu giúp dương danh Đại Việt ra bên ngoài, được Trần Văn Kỷ đặc biệt thưởng thức, ra sức tiến cử, thật ra Trần Danh Tuấn trước khi thành danh vốn là thân binh của Trần Quang Diệu rồi. Quang Toản bằng nhiều lý do, lấy đi của Trần Quang Diệu gần hết binh quyền, từ hai vạn người xuống còn chưa đến tám ngàn quân, tuy ông ta không ý kiến gì nhưng hắn vẫn thấy áy náy, hơn nữa trong Lạc Việt quân có không ít người vốn là thuộc hạ đắc ý của các tướng lĩnh Tây Sơn, vì tân quân vốn là tập hợp các cá nhân xuất sắc đến từ nhiều doanh khác nhau, nổi lên như một thế lực thân tín của Hoàng Đế trong tương lai, đa số đều nhận định Quang Toản đang sửa soạn cho việc xây dựng trung quân, không thể nghi ngờ, các tướng lĩnh Đại Việt trong tương lai chắc chắn sẽ trưởng thành từ đây, một vị trí thân tín trong đó là điều đáng được dành giật, nhưng người của Trần Quang Diệu dường như không có, việc để Trần Danh Tuấn vào tiểu đoàn 104 cũng vì một phần do nguyên nhân này, cân bằng quyền lực lúc nào cũng đáng được lưu kỵ binh sau khi được sát nhập vào tân quân, gọi là tiểu đoàn kỵ binh số 201, tên Vũ Văn Thành gian xảo kia, Quang Toản cũng đào từ Lý Văn Bưu ra, bố trí cho đám người mới này xong, hắn vẫn thấy có điều gì chưa ổn lắm, chợt nhớ đến một binh chủng quan trọng không thể thiếu trong thời đại này, Tượng Binh!Để Bùi Thị Xuân gom góp voi chiến và quản tượng ưu tú, Quang Toản chọn lấy 250 con, sắp xếp trên mỗi voi hai giá súng, giao cho tiểu đoàn 104, mỗi voi xếp hai xạ thủ. Vì lượng voi có hạn nên Quang Toản chỉ đủ sắp xếp cho một tiểu đoàn, ba tiểu đoàn còn lại đành phải làm bộ binh hạng nặng bất đắc dĩ. Sau đó cho Lạc Việt Quân bí mật xuất phát thẳng hướng đồn Ninh Hòa, Nguyễn Văn Lộc mang theo pháo binh cùng trí xong hết thảy ngày 16 tháng 12 năm 1795 Al Quang Toản xuất phát cùng thủy binh Nguyễn Văn Tuyết từ cảng Thuận An đến Hòn Lớn sau đó tiến đến đồn Ninh Hòa. Tại đây Võ Văn Dũng và Vũ Đình Tú đem gươm ra chịu tội, Quang Toản nói.“Tướng dẫn binh sa trường lâu ngày mà phạm vào tội như vậy quả đáng chém, Nhưng thắng thua cũng là chuyện bình thường của nhà binh, huống chi đang trong chiến trận kỵ việc chém soái, tạm thời giữ mạng hai ngươi lại, chờ sau trận chiến lại xử tội cũng không muộn” Quang Toản rạch ròi đó Quang Toản cử thám báo trinh sát xuất phát dò đường, phong Võ Văn Dũng làm tả quân lĩnh binh sáu ngàn người, để Vũ Đình Tú làm hữu quân lĩnh binh sáu ngàn người, Phạm Văn Điềm làm hậu quân dẫn binh 6000, Phan Văn Lân làm tiền quân suất lĩnh 6000 người, Quang Toản trấn giữ trung quân, nhưng cờ hiệu lại lấy danh nghĩa của Nguyễn Văn Lộc, gồm quân cận vệ 500 người, pháo binh và Lạc Việt quân. Bùi Thị Xuân lo việc hậu cần quân bị. Đặng Xuân Bảo và Nguyễn Văn Tuyết đem thủy quân ra đóng ở ngoài khơi Cam Ranh nhằm trợ chiến. Trong tả quân, hữu quân, và tiền quân, có sự xuất hiện của binh chủng mới, lính súng kíp kiểu âu, vừa được gấp rút huấn luyện hơn hai tháng, chiếm gần một nửa quân 24 tháng 12 năm 1795 Quang Toản lệnh Phan Văn Lân suất lĩnh tiền quân đi trước, hắn dẫn toàn quân đi sau, thẳng hướng thành Diên Diêm Khánh chứa bốn vạn quân tinh nhuệ của Gia Định, trên tường thành có gần ngàn pháo đạn lớn nhỏ, một nửa số đó lấy từ cuộc rút chạy của Võ Văn Dũng, giữ thành có tả quân Lê Văn Duyệt, Tiền quân Nguyễn Văn Thành làm chỉ huy, tường thành bằng đá cao bốn mét, phía trước thành có hào bảo vệ, lương thực đủ dùng cả năm, là nơi dễ thủ khó công, Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng từng nếm không ít quả đắng nơi đây. Chính Quang Toản cũng không lấy gì nắm chắc hạ được thành này, nhưng nếu hạ được nó, đường đến Gia Định không còn quá chân thành Diên Khánh, Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành cho quân dàn trận chờ Quang Toản đến, Phan Văn Lân thấy quân địch đông không dám sơ suất, liền giảm tốc độ hành quân, chờ đại quân phía sau đến. “ Bên địch có bao nhiêu binh quân, bố trí ra sao” Quang Toản hỏi“ Địch quân ba vạn ra ứng chiến với chúng ta, tướng xuất thành là Lê Văn Duyệt, bên cánh phải có năm mươi voi chiến, bộ binh dùng hỏa thương tám ngàn, bên cánh phải có 100 xa pháo, kỵ binh hai ngàn xếp phía sau, còn lại là xếp ở trung quân mâu binh xếp trước, hỏa thương binh xếp sau cùng là cung tiễn thủ hai bạn người, trung quân là nơi mạnh nhất của địch.” Phan Văn Lân báo Toản nghe xong liền méo mặt, hắn quên mất là mình đang ở cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, hai bên dàn quân chờ đánh trận, trận chiến theo kiểu thí quân thí tướng, bên nào kiên trì được đến cuối cùng coi như thắng, chứ không phải lối đánh đột kích như chiến tranh sau này. Rất không may ở trường quân sự thế giới trước, hắn không được dạy về loại chiến thuật này, với lại do thói quen không muốn đánh đấm theo kiểu giết địch một ngàn bị thương tám trăm nên nhất thời hắn chưa biết phải ra lệnh như thế nào cho phải, phải mất một hồi lâu Quang Toản mới ra được mệnh lệnh đầu tiên. “ Tả quân bên phải, hữu quân bên trái, Pháo dàn trước trận, bộ binh Lạc Việt quân đứng phía sau bảo vệ pháo, Tượng binh đứng trước tả quân, kỵ binh đứng sau hữu quân, tiền quân tiến lên trước mười bước làm nghi binh, hậu quân làm dự bị chia bốn tốp dàn ngang chờ lệnh. Tất cả vào vị trí, chờ lệnh tấn công” Quang Toản ra lệnh lính thông tin tỏa ra đi báo với các nơi.“ Tả quân đợi lệnh, hữu quân đợi lệnh, tiền quân, hậu quân đợi lệnh, Lạc Việt quân đợi lệnh, Pháo quân đợi lệnh!” tất cả các vị trí sau khi sắp xếp liền báo về đã sẵn sàng.“Xa pháo hướng thẳng quân địch bắn liên tục không nghỉ, hữu quân lui về sau năm mươi bước ra ngoài tầm đạn pháo địch” Quang Toản ra lệnh.“ Bùm.. đùng!”Quang Toản phát hiện ra điểm yếu trong cách bố trí pháo của Lê Văn Duyệt nên ra lệnh hữu quân lùi phía sau, lại lệnh pháo bắn không ngừng nghỉ nhằm ép Lê Văn Duyệt tấn công trước. Như vậy Quang Toản sẽ có lợi thế hơn. Với lại hắn cũng không quá rành rẽ về cách điều binh bố trận của loại hình chiến thuật thời đại này, chỉ đành theo kiểu truyền thống, tiền pháo hậu xung mà ra nòng pháo không đủ chuẩn về chất lượng thép, pháo binh vẫn phải dùng thuốc nổ đen để nhồi. Đạn pháo liên tục bắn ra khói đen trở nên mịt mù, Lê Văn Duyệt cũng cho pháo đáp trả nhưng vì hữu quân Phú Xuân đã lui ra sau nên không mấy hiệu quả. Pháo của Nguyễn Văn Lộc chi phối cả ba cánh quân của Lê Văn Duyệt liên tục xạ kích vào đội hình mãi không có dấu hiệu dừng lại, thương vong cũng vì đó mà tăng lên, chỉ sau hai khắc 30p ước chừng đã có năm trăm lính Gia Định chết vì pháo kích. Pháo thời đại này vẫn dùng đạn cầu đặc, lúc bắn ra đẩy viên đạn đi thẳng hướng vào trận địa đối phương rồi lăn lông lốc vài vòng và nằm im, chẳng có hiện tượng nổ bùm như loại đạn nổ sau này, nên đạn bắn thì nhiều, nổ thì to, khói bụi mịt mù nhưng khả năng sát thương không lớn, chủ yếu vẫn là để hù dọa tin thần binh sĩ đối phương, đạn đặc không nổ, phạm vi sát thương kém nhược, nhưng nếu binh lính trực tiếp trúng đạn chỉ có nước thành thịt nhão, sẽ cảm thấy như thế nào khi ngươi bên cạnh vừa đứng xếp hàng với mình nay thành đống máu thịt lẫn lộn, chỉ có binh sỹ trong cuộc mới hiểu, nó làm cho người ta run lẩy bẩy, mất sức chiến đấu như thế nào, khả năng trúng đạn trực tiếp là rất thấp nhưng suốt thời gian pháo kích lúc nào cũng trong trạng thái lo sợ, tinh thần cực độ tiêu hao.“Cứ để đối phương bắn gắt như thế này mà không đáp trả, sẽ ảnh hưởng lớn đến sỹ khí, pháo binh của ta đâu? Cho đáp trả mạnh vào, bắn cho chúng ngỏm luôn đi!” Lê Văn Duyệt ra lệnh.“Chúng ta bắn không đến! Xin tướng quân cho pháo đổi hướng tấn công!”“Ngu ngốc! Bây giờ đổi trận địa còn kịp sao? Vô dụng, toàn là đồ bỏ đi cả, dặn kỵ binh sẵn sàng đi, tập kích thăm dò cánh trái của chúng” Lê Văn Duyệt trở nên ngày càng sốt ruột. Lệnh cho kỵ binh chuẩn bị tấn công. Thấy kỵ binh đối phương có dị động, Quang Toản lệnh để bộ binh cầm súng kíp xếp thành đội hình ô vuông sẵn, lệnh bộ binh Lạc Việt quân đang ở bên cạnh xa pháo chuyển sang tư thế quỳ bắn, phòng ngừa đối phương bỏ qua mục tiêu hai cánh mà đánh vào pháo binh. Võ Văn Dũng và Vũ Đình Tú và các tướng lĩnh khác thấy Lạc Việt quân quỳ xuống chĩa súng ra phía trước trông thấy lạ, nhưng không thể rời vị trí nên chẳng thể đến bên Quang Toản để hỏi thăm được, đành kìm nén tò mò mà chờ đợi.“Các ông nói có phải chúng sợ quá mà quỳ xuống không?” một viên quan tham tá bên cạnh Lê Văn Duyệt chỉ trỏ mà nói làm cả đám tướng sỹ xung quanh cười sang sảng.“Ha.. ha.. ha.. ha.”Quả nhiên hai ngàn kỵ binh của Lê Văn Duyệt tiến lên ý đồ từ cánh trái đánh vào, đầu tiên gặp phải pháo kích buộc chúng phải chạy vòng tấn công phía sườn cánh quân phía trái đang lộ ra sơ hở, nào ngờ tại đây có hai khối vuông súng kíp chờ sẵn, súng bắn, lựu đạn được ném ra, gây thiệt hại nặng cho toán kỵ binh quân Lê Văn Duyệt, thêm kỵ binh Lạc Việt quân nối đuôi chạy vòng cung phía ngoài, xạ kích vào đám đông kỵ binh đối phương, rồi lại chạy theo kiểu du kích.“Chúng làm gì kia! Đám đạo tặc Tây Sơn biết dùng trận pháp từ khi nào?” Lê Văn Duyệt nhìn thấy quân Tây Sơn biến đổi trận hình, không nhịn được mà thốt lên.“Cái này giống cái như cơ đội Oliver vẫn thường nhắc đến, trận hình vuông” một quan tá trả lời.“Đám Tây Dương ấy cũng biết dùng trận pháp! Sao chưa bao giờ nghe qua?” Lê Văn Duyêt thắc mắc nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu từ viên tham tá.“Chỉ là cách sắp xếp đội hình cho lính hỏa thương, chúng như con nhím vậy, không linh động lúc giáp mặt đối địch, nhưng bây giờ đúng là rất có hiệu quả, xem ra chủ tướng địch rất giỏi ứng biến.” Viên tham tá nhận xét.“Hừ..! Nếu ta có trong tay một đám cung kỵ, liền chẳng sợ bọn nó, cái ngữ ấy chỉ cần một đội cung kỵ thôi liền tàn phế, chỉ tiếc kỵ binh của ta chỉ dùng được đao, không thiện dùng cung.” Lê Văn Duyệt không hổ là lão tướng sa trường lần đầu đã nhìn ngay ra được ưu nhược điểm của quân Phú Xuân, chỉ hận dù biết cũng không thể phá.“Tướng quân cho quân mang khiêng chắn tiến lên mở đường xông thẳng vào một chỗ liền phá được quân ấy, cần gì đến cung kỵ”“Ta cho quân mang khiêng tiến lên, bọn chúng cũng sẽ xuất binh, trong hỗn chiến, kỵ binh của ta còn có tác dụng rắm nữa sao?” Lê Văn Duyệt nói rất đúng, thử hỏi sức mạnh của kỵ binh nằm ở chỗ nào? Ưu thế là gì? Chính là nằm ở chữ kỵ, dùng đà tiến của ngựa, sức tì đè mà càn lướt đột phá, sự xung phong tốc độ cao của kỵ binh tạo nên tầng tầng lớp lớp từng cơn sống xung kích, như mũi mâu đâm thẳng vào đội hình đối thủ, chia cắt quân địch, nói nôm na, kỵ binh như những chiếc xe ủi trên chiến trường, nếu như kỵ binh mất đi ưu thế về càn lướt và quán tính của tốc độ, sa lầy vào hỗn chiến thì coi như xong, khi đó kỵ binh chỉ được xem là bộ binh cưỡi ngựa mà thôi, vướng víu, mất đi ưu thế, đồng nghĩa với việc lộ ra nhược điểm, chiến đấu trong điều kiện như vậy sao linh hoạt bằng bộ binh đang đứng bởi chính bàn chân mình trên vậy, trong chiến tranh lực lượng hỗn chiến bao giờ cũng là bộ binh, kỵ binh thường được dùng trong các việc như, do thám, vu hồi, dẫn dụ, bọc hậu, hộ tống, đột kích mở đường, chủ yếu vẫn dùng vào thời điểm khai chiến và hậu chiến, xây dựng được kỵ binh rất khó, cực hao tốn tiền của và thời gian, chẳng ai dại dội sử dụng chúng để hỗn chiến cả, trừ khi gặp phải chủ soái quá ngu ngốc.
nước lạc việt ở thế giới mới